Mr.Trung : 097.837.2346
Ms. Trang : 093.637.2346
Email:vietviewtour@gmail.com

"ĐIỂM DANH" 54 DÂN TỘC ANH EM TRÊN DẢI ĐẤT HÌNH CHỮ S

  10/09/2016

  Nguyễn đức trung

"ĐIỂM DANH" 54 DÂN TỘC ANH EM TRÊN DẢI ĐẤT HÌNH CHỮ S

Trải dài trên 17 vĩ độ, dải đất hình chứ S - Việt Nam có sự đa dạng với các vùng lãnh thổ khác nhau về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, khí hậu, thổ nhưỡng… mỗi tộc người  đều mang trên mình những nét văn hóa riêng có từ đó tạo cho Việt Nam một nền văn hóa phong phú và đa dạng.

Trong quá trình hội nhập và phát triển, cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc, lòng yêu nước và tự hào dân tộc.…có ý thức giữ gìn, bảo vệ nét văn hóa truyền thống của cộng đồng tộc người, giữ gìn và phát huy nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Năm mươi bốn dân tộc anh em sinh sống trên dải đất hình chữ S luôn cùng nhau gắn bó, đoàn kết để xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày càng vững mạnh. Hãy cùng “điểm danh” cộng đồng các dân tộc trên dải đất hình chứ S - Việt Nam.

    

1. Dân tộc Kinh.

Dân số:  73.594.427,  Đây là dân tộc chính, chiếm khoảng 86,2% dân số Việt Nam và được gọi chính thức là dân tộc Kinh để phân biệt với những dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Ngôn ngữ chính sử dụng là Tiếng Việt theo nhóm Việt-Mường. Người Kinh sinh sống trên khắp toàn thể nước Việt Nam và một số nước khác nhưng đông nhất vẫn là các vùng đồng bằng và thành thị trong nước. 

 

2. Dân tộc Tày

Người Tày là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc Việt Nam. Người Tày nói tiếng Tày, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Thái của hệ ngôn ngữ Tai- Kađai.Người Tày sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi thấp phía bắc Việt Nam. người Tày ở Việt Nam có dân số 1.626.392 người năm 2009, là dân tộc có dân số đứng thứ 2 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63tỉnh,  thành phố nhưng chủ yếu là ở các tỉnh trung du và miền núi phía bắc.

 

3. Dân tộc Thái

Năm 2009, người Thái ở Việt Nam có dân số 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Thái cư trú tập trung tại các tỉnh Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa,  Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái.

 

4. Dân tộc Mường

Người Mường, là một dân tộc sống ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, là thành viên của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Người Mường nói tiếng Mường, ngôn ngữ thuộc nhóm Việt - Mường trong ngữ chi Việt thuộc ngữ tộc Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á.

Người Mường tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa. Dân số tại Việt Nam theo kết quả Điều tra dân số năm 2009 là 1.268.963 người..

 

5. Dân tộc Khmer

Phần lớn người Khmer sống tập trung ở Campuchia. Ở Việt Nam người Khmer sống chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam thuộc các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre. Năm 2009, người Khmer ở Việt Nam có dân số 1.260.640 người, có mặt tại nhiều tỉnh ở Nam Bộ. Người Khmer cư trú tập trung tại các tỉnh: Sóc Trăng, Trà Vinh , Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Long, Cần Thơ , Hậu Giang, Bình Phước, Bình Dương.

 

6.Dân tộc H’mông

Nằm trong một quốc gia đa dân tộc, dân tộc H'Mông được coi là một thành viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Dân tộc H'Mông cư trú thường ở độ cao từ 800 đến 1500 m so với mực nước biển gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt - Trung và Việt - Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông và Tây bắc Việt Nam như: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La... Do tập quán du mục nên một số người H'Mông trong những năm 1980, 1990 đã di dân vào tận Tây Nguyên, sống rải rác ở một số nơi thuộc Gia Lai và Kon Tum.

Năm 2009, người H’Mông ở Việt Nam có dân số 1.068.189 người, đứng hàng thứ 8 trong bảng danh sách các dân tộc ở Việt Nam, cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người H’Mông cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu), Yên Bái, Cao Bằng, Nghệ An, Đăk Lăk, Đăk Nông, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thanh Hóa.

 

7. Dân tộc Nùng

Người Nùng nói một nhóm ngôn ngữ thuộc ngữ chi Tai của ngữ hệ Tai-Kadai.Người Nùng sống tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang. Hiện tại, một lượng lớn đã di cư vào các tỉnh Tây Nguyên, chủ yếu tại Đăk Lăk.

 

8.Dân tộc Hoa

Dân tộc Hoa là những người gốc Trung Quốc định cư ở Việt Nam và đa số có quốc tịch Việt Nam. Năm 2009 người Hoa ở Việt Nam có dân số 823.071 người, có mặt tại tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Hoa cư trú tập trung tại: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu, Bình Dương, Bắc Giang. 

 

9. Dân tộc Dao

Người Dao là một trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, với số dân là 751.067 người (2009). Ở Việt Nam, người Dao tuy có dân số không đông nhưng các bản làng của họ trải rộng tại các miền rừng núi phía Bắc (Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang,...) đến một số tỉnh trung du như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và miền biển Quảng Ninh (người Dao Thanh Y). Ngoài ra, người Dao còn chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng về phong tục tập quán mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y, Dao Áo dài, Dao Quần Trắng.

 

10. Dân tộc Gia Rai

 Năm 2009, người Gia rai ở Việt Nam có dân số 411.275 người, cư trú tại 47 trên tổng số 63tỉnh, thành phố. Người Gia rai cư trú tập trung tại tỉnh Gia Lai (372.302 người, chiếm 29,2% dân số toàn tỉnh), ngoài ra còn có ở Kon Tum, Đắk Lắk. Đây là dân tộc bản địa có số dân đông nhất Tây Nguyên.

 

11. Dân tộc Ê đê

Năm 2009, người Ê Đê ở Việt Nam có dân số 331.194 người, cư trú tại 59 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ê Đê cư trú tập trung tại tỉnh: Đăk Lăk (298.534 người, chiếm 17,2% dân số toàn tỉnh .Ngoài ra còn có ở các tỉnh Phú Yên, Đăk Nông, Khánh Hòa.

 

12. Dân tộc Bana

năm 2009, người Ba Na ở Việt Nam có dân số 227.716 người, cư trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ba Na cư trú tập trung tại các tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Phú Yên, Bình Định, Đắk Lắk, Bình Thuận.

 

13. Dân tộc Xơ Đăng

Người Xơ Đăng cư trú tập trung ở tỉnh Kon Tum, một số ít ở miền núi của tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Quảng Nam. Năm 2009, người Xơ Đăng ở Việt Nam có dân số 169.501 người, có mặt tại 41 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Xơ Đăng cư trú tập trung tại tỉnh Kon Tum, Quảng Ngãi, Đắk Lắk, Gia Lai. 

 

14. Dân tộc Sán Chay

Người Sán Chay chủ yếu tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như Yên Bái, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, rải rác ở các tỉnh: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn. Hiện tại có một nhóm người vào Tây Nguyên lập nghiệp được tổ chức thành các làng.Dân số theo điều tra dân số 2015 là 170.000 người.

 

15.  Dân tộc Cơ Ho

Năm 2009, người Cơ Ho ở Việt Nam có dân số 166.112 người, cư trú tại 46 trên tổng số 63 tỉnh,thành phố. Người Cơ Ho cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng, Bình Thuận, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh.

 

16. Dân tộc Chăm

Trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 145.235 người Chăm sinh sống, sống rải rác ở các tỉnh phía Nam như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang,... Do đặc điểm cư trú, tính chất tôn giáo và sắc thái văn hóa mang tính vùng miền, người Chăm ở Việt Nam được chia thành 3 nhóm cộng đồng chính là: Chăm H'roi, Chăm Ninh Thuận - Bình Thuận, và Chăm Nam Bộ. 

 

17. Dân tộc Sán Dìu

Người Sán Dìu là một dân tộc ít người sinh sống ở miền trung du của một số tỉnh miền Bắc Việt Nam. Thái Nguyên,Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Hải Dương (tổng cộng khoảng 97%). Một số di cư vàoTây Nguyên lập nghiệp, thành các làng hay sống rải rác tại các tỉnh thành khác.

 

18. Dân tộc Hrê

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hrê ở Việt Nam có dân số 127.420 người, cư trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Hrê cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum, Đắk Lắk, Gia Lai.

 

19. Dân tộc Ra glai

Năm 2009, người Raglai ở Việt Nam có dân số 122.245 người, có mặt tại 18 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Raglai cư trú tập trung tại các tỉnh: Ninh Thuận, Khánh Hòa, Bình Thuận và Lâm Đồng. 

 

20. Dân tộc M’nông

Tại Việt Nam, người M'Nông là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Địa bàn cư trú của người M'Nông bao gồm những phần đất thuộc các huyện miền núi tây-nam tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Quảng Nam, Lâm Đồng và Bình Phước (chiếm trên 99,3%) của Việt Nam, nhưng tập trung đông nhất là tại các huyện của tỉnh Đăk Nông.

 

21.Dân tộc X’tiêng

Năm 2009, người Xtiêng ở Việt Nam có dân số 85.436 người, có mặt tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Xtiêng cư trú tập trung tại tỉnh Bình Phước (81.708 người, chiếm 95,6% tổng số người Xtiêng tại Việt Nam), Tây Ninh, Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Dương. 

 

22.Dân tộc Bru- Vân Kiều

năm 2009, người Bru-Vân Kiều ở Việt Nam có dân số 74.506 người, cư trú tại 39 trên tổng số 63tỉnh, thành phố. Người Bru-Vân Kiều cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Trị, Quảng Bình, Đắk Lắk, Thừa Thiên Huế, Thanh Hóa.

 

23. Dân tộc Thổ

Năm 2009, người Thổ ở Việt Nam có dân số 74.458 người, có mặt tại 60 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Thổ cư trú tập trung tại Nghệ An, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Đồng Nai, Đắk Lắk, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Điện Biên, Đắk Nông, Hà Nội. 

 

24. Dân tộc Khơ mú

Tại Việt Nam, họ sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ như Nghệ An, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái với số dân theo điều tra dân số năm  2009, người Khơ Mú ở Việt Nam có dân số 72.929 người, cư trú tại 44 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.

 

25. Dân tộc Cơ Tu

Người Cơ Tu là một dân tộc sống ở trung phần Việt Nam và Hạ Lào. Dân số người Cơ Tu có khoảng trên 76 nghìn người, là một trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Năm 2009, người Cơ Tu ở Việt Nam có dân số 61.588 người, cư trú tại 38 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Cơ Tu cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Nam. Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh. 

 

26. Dân tộc Giáy

Người Giáy, còn gọi là Nhắng, Dẳng, Pâu Thìn, Pu Nà, Cùi Chu, Xạ, là một dân tộc thiểu số trong 54 dân tộc thiểu số. người Giáy ở Việt Nam có dân số 58.617 người (2009), cư trú tại 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Giáy cư trú tập trung tại các tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu,Yên Bái. 

 

27. Dân tộc Giẻ Triêng

Người Giẻ Triêng là người dân một dân tộc nhỏ, với số dân khoảng 30.000 người, sinh sống chủ yếu tại tỉnh Kon Tum, vùng miền núi tỉnh Quảng Nam (trên 99,2%). Người Giẻ Triêng nói bằng ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.

 

28. Dân tộc Tà Ôi

Người Tà Ôi, còn gọi là Tôi Ôi, Pa Cô, Ba Hi hay Pa Hi, là một dân tộc cư trú ở vùng trung Việt Nam và nam Lào. Người Tà Ôi ở Việt Nam có dân số 43.886 người (2009), có mặt tại 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Tà Ôi cư trú tập trung tại các tỉnh: Thừa Thiên- Huế (29.558 người, chiếm 67,35% tổng số người Tà Ôi tại Việt Nam), Quảng Trị, Thanh Hóa, Quảng Nam. 

 

29. Dân tộc Mạ

Người Mạ (có tên gọi khác Châu Mạ, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Ngắn) là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.  Người Mạ ở Việt Nam có dân số 41.405 người, cư trú tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Mạ cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng, Đắk Nông,  Đồng Nai, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh. 

 

30. Dân tộc Cor

Người Co còn có tên gọi khác: Cor (Kor), Col, Cùa, Trầu. Người Co là một trong số 54 dân tộc ở Việt Nam. Người Co cư trú chủ yếu ở huyện Trà Bồng (tỉnh Quảng Ngãi), huyện Nam Trà My và huyện Núi Thành (tỉnh Quảng Nam).

 

31. Dân tộc Chơ ro

Người Chơ Ro còn gọi là người Đơ-Ro, Châu Ro, là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.

Người Chơ Ro có dân số 26.000 người. Người Chơ Ro cư trú đông ở tỉnh Đồng Nai, một số ít ở tỉnh Bình Thuận, Bình Dương và Bình Phước.

 

32. Dân tộc Xinh Mun

Người Xinh Mun, còn gọi người Puộc, người Pụa là một dân tộc ít người, sinh sống ở bắc Việt Nam và Lào. Người Xinh Mun ở Việt Nam có dân số 23.278 người, có mặt tại 22 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Xinh Mun cư trú tập trung tại tỉnh Sơn La (21.288 người, chiếm 91,5% tổng số người Xinh Mun tại Việt Nam), Điện Biên, Đồng Nai, Nam Định, Hà Nội. 

 

33. Dân tộc Hà Nhì

Người Hà Nhì ở Việt Nam có dân số 21.725 người, cư trú tại 32 trên tổng số 63 tỉnh,thành phố ở các tỉnh Lai Châu và Lào Cai, giáp với Trung Quốc, gồm 3 nhóm địa phương: Cồ Chồ, Là Mi và Hà Nhì Đen.

 

34. Dân tộc Chu ru

Người Chu Ru là một dân tộc trong số 54 dân tộc Việt Nam. người Chu Ru ở Việt Nam có dân số 19.314 người, cư trú tại 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Chu Ru cư trú chủ yếu ở Lâm Đồng. 

 

35. Dân tộc Lào

Người Lào tại Việt Nam, còn gọi tên khác là Lào Bốc hoặc Lào Nọi, là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc Việt Nam. Người Lào nói tiếng Lào, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Thái trong hệ ngôn ngữ Tai-Kadai. Người Lào tại Việt Nam cư trú tập trung tại các huyện Điện Biên, Phong Thổ (tỉnh Điện Biên), Sông Mã (tỉnh Sơn La), Than Uyên (tỉnh Lào Cai).

 

36. Dân tộc Kháng

Người Kháng, còn gọi là Xá Khao, Xá Xúa, Xá Đón, Xá Dâng, Xá Hộc, Xá Aỏi, Xá Bung, Quảng Lâm, là dân tộc cư trú tại bắcViệt Nam và Lào. Họ là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Người Kháng nói tiếng Kháng, là ngôn ngữ thuộc ngữ chi Khơ Mú của ngữ tộc Môn-Khmer. Ngôn ngữ của họ rất gần với tiếng Xinh Mun (tiếng Puộc).

Người Kháng ở Việt Nam có dân số 13.840 người, cư trú tại 25 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Kháng cư trú tập trung tại các tỉnh: Sơn La (8.582 người, chiếm 62,0% tổng số người Kháng tại Việt Nam), Điện Biên (4.220 người, chiếm 30,5% tổng số người Kháng tại Việt Nam), Lai Châu (960 người).

 

 37. Dân tộc La Chí

Dân tộc La Chí là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Cư trú chủ yếu ở các huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì (tỉnh Hà Giang), huyện Mường Khương và Bắc Hà (tỉnh Lào Cai).

 

38. Dân tộc Phù Lá

Người Phù Lá, còn có tên gọi khác là Xá Phó, Bồ Khô Pạ, Mú Dí Pạ, Phổ, Va Xơ Lao, Pu Dang, là một dân tộc thiểu số cư trú tại bắc Việt Nam.  Người Phù Lá ở Việt Nam có dân số 10.944 người, có mặt tại 23 trên tổng số 63 tỉnh,thành phố, cư trú tập trung tại các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Điện Biên, Hà Nội. 

 

39. Dân tộc La Hủ

Dân tộc La Hủ là một trong số 54 dân tộc của Việt Nam. Người La Hủ ở Việt Nam có dân số 9.651 người, cư trú tại 16 trên tổng số 63tỉnh, thành phố. Tuyệt đại đa số gười La Hủ cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu (9.600 người, chiếm 99,47% tổng số người La Hủ tại Việt Nam), ngoài ra còn có ở Thái Nguyên, các tỉnh còn lại có không nhiều hơn 10 người.

 

40. Dân tộc La Ha

Dân tộc La Ha còn được gọi với một số tên khác nhau như La Ha, Klá, Phlạo, Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa. Là một dân tộc được CHXHCN Việt Nam chính thức công nhận. Người La Ha ở Việt Nam có dân số 8.177 người (2009), cư trú tại 20 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Tuyệt đại đa số người La Ha cư trú tập trung tại tỉnh Sơn La.

 

41. Dân tộc Pà Thẻn

Người Pà Thẻn là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Người Pà Thẻn tự gọi mình là Tống nhân hoặc Bát Tiên.  người Pà Thẻn ở Việt Nam có dân số 6.811 người, có mặt tại 32 trên tổng số 63 tỉnh,thành phố. Người Pà Thẻn cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang.

 

42. Dân tộc Chứt

Người Chứt, còn gọi là người Rục, người Sách, người A rem, người Mày, người Mã liềng, người Tu vang, người Pa leng,người Xe lang, người Tơ hung, người Cha cú, người Tắc cực, người U mo, người Xá lá vàng, là một dân tộc ít người sinh sống tại Việt Nam và Lào.

Tại Việt Nam người Chứt được công nhận là một trong 54 dân tộc Việt Nam. có dân số 6.022 người, cư trú tại 23 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Chứt cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Bình (5.095 người, chiếm 84,6% tổng số người Chứt tại Việt Nam), Đắk Lắk, Lâm Đồng, Hà Tĩnh.

 

43. Dân tộc Lự

Người Lự, còn gọi là người Lữ, người Nhuồn, người Duồn, là một dân tộc ít người sinh sống trong khu vực Thái Lan, Lào,Việt Nam và Trung Quốc. Tại Việt Nam, người Lự được công nhận là dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. có dân số 5.601 người, cư trú tại 21 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Phần lớn người Lự cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu (5.487 người, chiếm 98,0% tổng số người Lự tại Việt Nam), Thái Nguyên (75 người), các tỉnh còn lại có không quá 10 người.

 

44. Dân tộc Lô Lô

Người Lô Lô là một trong số 54 dân tộc ở Việt Nam, cũng là một trong số các dân tộc thiểu số ở Thái Lan, Lào và Trung Quốc. Người Lô Lô ở Việt Nam có dân số 4.541 người, cư trú tại 30 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Lô Lô cư trú tập trung tại các tỉnh: Cao Bằng (2.373 người, chiếm 52,3% tổng số người Lô Lô tại Việt Nam), Hà Giang (1.426 người), Lai Châu (617 người).

 

45. Dân tộc Mảng

Người Mảng (tên gọi khác: Mảng Ư, Xá lá vàng) là một dân tộc thiểu số cư trú ở bắc Việt Nam và nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam).

Tại Việt Nam họ là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Người Mảng cư trú chủ yếu ở Sìn Hồ, Mường Tè, Phong Thổ, Mường Lay, tỉnh Lai Châu. Có dân số 3.700 người, cư trú tại 14 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Mảng cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu (3.631 người, chiếm 98,1% tổng số người Mảng tại Việt Nam), ngoài ra còn có ở Đồng Nai (17 người), Đắk Lắk (15 người), các tỉnh khác không quá 10 người.

 

46. Dân tộc Cờ Lao

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Cờ Lao ở Việt Nam chỉ có dân số 2.636 người, nhưng có mặt tại tới 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Cờ Lao cư trú tập trung tại tỉnh Hà Giang (2.301 người, chiếm 87,3% tổng số người Cờ Lao tại Việt Nam), ngoài ra còn có ở Tuyên Quang, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.

 

47. Dân tộc Bố Y

Người Bố Y có dân số 2.273 người (2009), cư trú tại 14 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Bố Y cư trú tập trung tại các tỉnh: Lào Cai (1.398 người, chiếm 61,5% tổng số người Bố Y tại Việt Nam), Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang. 

 

48. Dân tộc Cống

Dân tộc Cống (tên gọi khác Xắm Khống, Mông Nhé, Xá Xeng) là dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến cư trú chủ yếu tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và khu vực ven sông Đà. người Cống ở Việt Nam có 2.029 người, cư trú tại 13 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.

 

49. Dân tộc Ngái

Người Ngái cư trú rải rác ở nhiều tỉnh thành. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ngái ở Việt Nam chỉ còn 1.035 người, có mặt ở 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ngái cư trú tập trung tại các tỉnh: Thái Nguyên, Đồng Nai, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Đắk Lắk, Cao Bằng. 

 

50. Dân tộc Si La

Người Si La, còn gọi là Cú Dé Xử, Khà Pé, là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Sắc tộc Si La hiện có khoảng 840 người, sống chủ yếu tại tỉnh Lai Châu (khoảng 65%), thuộc miền bắc Việt Nam. Đa số những người này sống tại ba bản Seo Hay, Sì Thâu Chải, Nậm Xin thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

 

51. Dân tộc Pu Péo

Dân tộc Pu Péo (tên gọi khác Ka Beo, Pen ti lô lô, La quả) là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Người Pu Péo cư trú tập trung ở vùng biên giới Việt - Trung thuộc các huyện Đồng Văn, Yên Minh và Bắc Mê tỉnh Hà Giang.

 

52. Dân tộc Rơ Măm

Người Rơ Măm là một tộc người ở Việt Nam. Tộc này cư trú chính tại làng Le, xã Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Các tỉnh khác có rất ít như thành phố Hồ Chí Minh (9 người), Đồng Nai (3 người).

 

53. Dân tộc Brâu

Tại Việt Nam, người Brâu được công nhận là một trong 54 dân tộc Việt Nam. Theo điều tra dân số năm 1999 thì người Brâu, cùng với người Ơ Đu, là một trong những tộc người ít dân nhất hiện nay ở Việt Nam, chỉ với 313 người, còn theo ước tính năm 2006 thì có 84 hộ với dân số 322 người, sống tập trung ở làng Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, thuộc Tây Nguyên.

 

54. Dân tộc Ơ Đu

Ơ Đu (theo tiếng Thái nghĩa là "thương lắm"), còn có tên gọi khác là Tày Hạt (có nghĩa là "người đói rách"), là một trong những dân tộc ít người nhất của Việt Nam và Lào. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ơ Đu ở Việt Nam có dân số 376 người, có mặt tại 11 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ơ Đu cư trú tập trung tại các tỉnh: Nghệ An (340 người, chiếm 90,4% tổng số người Ơ Đu tại Việt Nam), Thành phố Hồ Chí Minh (12 người), Hà Nội (7 người), Lâm Đồng (4 người), Đồng Nai (4 người).

 

Đóng góp ý kiến

Call: 097.837.2346