Mr.Trung : 097.837.2346
Ms. Trang : 093.637.2346
Email:vietviewtour@gmail.com

PHẬT GIÁO - TÔN GIÁO "CHIẾM ĐƯỢC" LÒNG NGƯỜI TẠI VIỆT NAM

  15/11/2016

  Nguyễn đức trung

TÌM HIỂU VỀ PHẬT GIÁO 

Phật giáo là một tôn giáo vô thần bao gồm các truyền thống, tín ngưỡng và phương pháp tu tập dựa trên lời dạy của một nhân vật lịch sử là Tất-đạt-đa Cồ - đàm hay ngày nay còn gọi là Đức Phật Thích Ca Mâu, gọi tắt là Phật, hay Bụt, có nghĩa là "người tỉnh thức", "người giác ngộ". Đức Phật Thích Ca Mâu xuất thân là một Thái tử, tên Tất - Đạt - Đa, dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca, thuộc đẳng cấp Sát - đế - lợi, con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma - Da.

 Theo sách vở Phật giáo cũng như các tài liệu khảo cổ đã chứng minh, Tất - đạt - đa Cồ-đàm đã sống và giảng đạo ở vùng đông Ấn Độ từ khoảng thế kỉ thứ 6 TCN đến thế kỉ thứ 4 TCN. Khi thái tử Cồ Đàm mới vừa sinh ra được ít ngày, một nhà tiên tri nổi riếng nói rằng khi lớn lên, thái tử hoặc là sẽ trở thành một vị vua vĩ đại, hoặc là sẽ trở thành 1 vị thánh. Vua cha thì thích thái tử trở thành vua hơn, vì vậy đã nhốt Tất Đạt Đa trong cung điện, không cho ra ngoài. Cũng chính vì thế, thái tử không biết chút gì về cuộc sống bên ngoài cung điện mà chỉ được dạy những kiến thức phục vụ cho công cuộc trị vì sau này mà thôi.

Vào một ngày nọ, vì tò mò, thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm đã yêu cầu người phu xe đưa Ngài tới vùng nông thôn. Ở đây, Ngài đã nhìn thấy 1 người đàn ông già, 1 người ốm, 1 xác chết và một thầy tu khổ hạnh lang thang. Lần đầu tiên trong đời, Ngài nhận ra rằng thực tế cuộc sống khắc nghiệt như thế nào, thực tế đó hiện hữu hàng ngày bên ngoài cung điện tráng lệ của Ngài. Ngài bị cảm động trước những gì hiện ra trước mắt. Khi trở về cung điện, đêm xuống, Ngài đi dạo một mình và nhận ra rằng tất cả những điều tốt đẹp cuối cùng rồi cũng lụi tàn và tan biến vào cát bụi. Ngay cả khi biết tin con trai mình vừa mới ra đời, Ngài cũng không tài nào vui nổi. Vì vậy, Ngài đã từ bỏ cuộc sống hoàng tộc quyền quý và mặc vào người quần áo ăn xin, rời khỏi cung điện và bắt đầu hành trình tìm kiếm sự giác ngộ.

Sau khi rời cung điện, Tất Đạt Đa bắt đầu tìm kiếm thầy dạy có thể giảng cho Ngài về những tôn giáo khác nhau và cách thức để hành thiền. Dù đã thử nhiều cách khác nhau, Ngài vẫn không thể đạt được những câu trả lời mà mình tìm kiếm. Rồi Ngài phát hiện ra chỉ con đường trung đạo mới có thể giúp cho mình đạt được giác ngộ.

Một ngày nọ, Tất Đạt Đa quyết tâm đạt được sự giác ngộ. Ngài ngồi dưới 1 cây Bồ đề thiêng liêng và bắt đầu thiền định. Sau suốt 49 ngày ngồi thiền, Tất Đạt Đa cuối cùng đã biết được tất cả lời giải đáp cho câu hỏi của mình, thấu suốt vũ trụ và trở thành đức Phật.

Đầu tiên, Đức Phật không sẵn lòng truyền đạo bởi Ngài tin rằng những gì ngài biết hoặc nhận ra rất khó để diễn tả bằng lời. Chỉ những người có tâm trí thuần khiết và kỷ luật mới có thể biết được chân lý tối thượng. Tuy nhiên, lòng từ bi đã thuyết phục Ngài thay đổi quyết định. Ngài bắt đầu giảng dạy các học thuyết về sự giác ngộ.

Đức Phật dạy các đệ tử mình cách đạt được tri kiến, thoát khỏi phiền não và si mê.

Vừa bắt đầu truyền đạo, đức Phật đã được hàng trăm người hưởng ứng và nghe theo.

Cuối cùng, đức Phật cũng hòa giải với cha của mình - quốc vương Tịnh Phạn của vương quốc Ca Tỳ La Vệ. Vợ của Ngài, nàng Da Du Đà La tận tụy đã trở thành Phật tử, cũng là nữ tu đầu tiên. Con trai của đức Phật tên là La Hầu La trở thành nhà sư trẻ nhất vào năm 7 tuổi và bắt đầu sống với cha mình.

Cho tới tận năm 80 tuổi khi Ngài tạ thế, đức Phật đã đi khắp nơi và giảng đạo không ngừng nghỉ. Lời cuối cùng mà Ngài dặn dò các đệ tử là phải tự mình bước đi trên con đường giải thoát, bởi vì không có gì trên thế giới này là trường tồn.

Sau khi Tất-đạt-đa Cồ-đàm qua đời thì Phật giáo bắt đầu phân hóa ra thành nhiều nhánh và nhiều hệ tư tưởng, với nhiều sự khác biệt so với ban đầu. Nhánh Phật giáo nguyên thủy (gọi là "Tiểu thừa") và nhánh Phát triển (hay Đại thừa,). Đạo Phật nguyên thủy phát triển mạnh ở Sri Lanka và Đông Nam Á (Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar.) Đạo Phật Đại thừa phát triển ở Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Singapore) và bao gồm nhiều phân nhánh nhỏ hơn như Tịnh độ tông, Thiền tông, Phật giáo Tây Tạng, Chân ngôn tông, Thiên thai tông. Ngoài ra, theo một số cách phân loại, nhánh thứ 3 là Mật tông (vajrayana), phát triển ở Tây Tạng và Mông Cổ, nhưng, theo một số phân loại khác thì Mật tông được xếp vào Đại thừa.

Mặc dù phát triển chủ yếu ở châu Á, nhưng hiện nay Đạo Phật được tìm thấy ở khắp thế giới. Ước tính số người theo đạo Phật vào khoảng 350 triệu đến 1,6 tỷ người.

Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu Công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử (ở Hưng Yên ngày nay) học đạo của một nhà sư Ấn Độ. Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trị sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng. Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các năm 168-189.

Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) được phiên âm trực tiếp thành "Bụt", từ "Bụt" được dùng nhiều trong các truyện dân gian. Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa, Bụt được coi như một vị thần tiên chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu. Sau này, vào thế kỷ thứ 4-5, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ "Bụt" bị mất đi và được thay thế bởi từ "Phật". Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm thành "Phật đà", "Phật đồ" rồi được rút gọn thành "Phật".

Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đến đầu thế kỷ 17, vua Quang Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không có nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu.

Đạo Phật cũng giống như muôn loài, cùng chung với mọi người. Đạo Phật cũng đi tìm hạnh phúc. Và nếu dùng chữ 'tu hành' theo cái nghĩa để chỉ cuộc đi tìm hạnh phúc, thực hiện hạnh phúc, thì quả thật, cả nhân loại không ai mà không tu hành. Người thì tu hành thực hiện tiền tài, người thì tu hành thực hiện dục lạc, người thì tu hành thực hiện danh vọng, người thì tu hành thực hiện trí thức ... là những thứ mà người đời cho là hạnh phúc. Nhưng tiếc thay, vì không thấy trước tất cả những cái đó đều vô thường, vô ngã; tất cả những thứ đó đều vô nghĩa trước sự vận hành không ngừng nghỉ của cuộc đời, nghĩa là sự vận hành không ngừng nghỉ của cái chết, cho nên khổ đau, tiếc hận, không thể nắm giữ là điều tất yếu. Tại sao đức Phật Thích Ca đã từ bỏ mọi thứ (những thứ mà Ngài có hơn người đời rất nhiều kể về số lượng lẫn chất lượng) không phải vì Ngài từ bỏ hạnh phúc để đi tìm khổ hạnh (nếu nghĩ đạo Phật là sự chối bỏ hạnh phúc, tìm kiếm khổ hạnh thì chắc là đạo Phật đã không còn đến ngày nay; trái lại đạo Phật tích cực rốt ráo, là đạo diệt khổ, thực hiện an vui vĩnh cửu) mà vì Ngài thấy rằng những thứ hạnh phúc mà Ngài đang có chỉ là hạnh phúc tạm bợ đặt căn bản trên sự vô thường và vô ngã của thế gian, bởi thế Ngài bỏ tất cả để tu hành, thực hiện cái hạnh phúc tối thượng và vĩnh cửu, gọi là Niết bàn. Sự từ bỏ của đức Phật là một bài học vô giá cho thế gian, cho mỗi một thân phận con người, rằng: Hạnh phúc thì không có ở kia, ở nơi những sự vật rỗng không và tiêu hoại, mà chỉ có ở đây, trong sự thực hiện cái An Vui không còn bị điều kiện, cái mục đích tối thượng của đời người mà chúng ta có thể gọi là gì tùy theo sở thích, khuynh hướng, căn cơ: Niết bàn, Pháp thân, tánh giác, Bi Trí toàn mãn, Phật tánh, khuôn mặt xưa nay ...

Cũng cùng một đời sống, cùng hít thở không khí, cùng ăn uống ngủ nghỉ, cùng một sinh hoạt của cuộc sống con người, thế mà chúng ta thấy có một sự khác biệt lớn lao giữa một người sống được đạo Phật và một người thường tục. Người sống được đạo Phật thì mãn nguyện, không lo sầu, thảnh thơi, thanh tịnh, tự do và an lạc

Trong khi đó, thì cũng cùng một trời đất ấy, người bình phàm thì luôn luôn tương tục mọi điều phiền não, bất loại nguyện, lo sợ, khổ đau, than khóc.

Sự khác biệt lớn lao ấy có thể nói là sự khác biệt giữa sanh tử và Niết bàn. Cũng cùng một đời sống, cũng cùng những nguyên liệu dưỡng chất trần gian, mà người thì hưởng thọ Niết bàn an lạc, người thì hưởng thọ sanh tử khổ đau. người thì đạt đến an vui vĩnh cửu, người thì loay hoay với món nợ khổ đau, đó là do sự đúng sai trong cách đặt vấn đề về cuộc sống, do sự đúng sai trong quan niệm về hạnh phúc. Ðức Phật đề cập đến 3 loại quan niệm sai lầm (tà kiến). Ðó là tri giác sai lầm, suy tư sai lầm và kiến thức sai lầm. Chính do sự sai lầm này dẫn dắt con người đến với khổ đau.

Chính 3 sự sai lầm tri giác sai lầm, suy tư sai lầm và kiến thức sai lầm thì kinh điển thường đề cập đến 4 phương diện của cái thấy sai lầm:

                                                                Vô thường mà cho là Thường
                                                                Bất toại nguyện, khổ mà cho là tọai nguyện, vui
                                                                Vô ngã mà cho là ngã
                                                                Bất tịnh, xấu dơ mà cho là thanh tịnh, đẹp sạch.

Do chạy đuổi theo cái thấy sai lầm đó mà có sanh tử khổ đau. Thế gian đã đặt vấn đề sai, rồi không biết giải quyết vấn đề hay giải quyết sai, từ đó duyên khởi ra một chuỗi mắt xích sai lầm vô tận. Vì không thấy được bất toại nguyện, Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã cho nên đi tìm Vui trong cái Khổ, đi tìm cái có trong cái không có, đi tìm cái thường còn trong cái niệm niệm sanh diệt, đi tìm cái ngã trong chỗ không thể nào có ngã, bèn đuổi bắt ảo vọng, rốt cuộc chỉ thấy có khổ, rỗng không, hoại diệt và bất an.

Trong khi đạo Phật thì giản dị mà sâu sắc vô cùng: ta cảm thấy đau khổ, bất an, buồn chán ư? (Khổ đế). Phải đi tìm nguyên nhân thực sự của cái khổ đó (Tập đế). Và khi thấy rõ nguyên nhân của nỗi khổ, nỗi khổ liền tan, vì không còn đất để mọc rễ. Khi thấy được nguyên nhân của khổ, thì không ai tiếp tục tự làm mình khổ, khi đã thấy cái nóng, cái bỏng là do tự mình lấy lữa châm mình thì không ai tiếp tục châm đốt mình nữa cả (Diệt đế). Quá trình giải quyết nỗi khổ, nỗi đau bấy giờ đã rõ ràng, tùy ta có thực hiện và thực hiện đến mức nào hay không (Ðạo đế).

Khổ, bất toại nguyện, không làm cách gì có thể thỏa mãn, vô ích (như kinh Lăng Nghiêm nói là làm sao có thể nấu cát thành cơm; hay kinh Viên Giác nói là làm sao có thể ngồi chờ hoa đốm kết thành trái), thì đã làm người, ai cũng từng phải cảm nghiệm thấy
Bằng cảm quan kinh tế của các nhà văn, bằng sự suy tư sâu sắc của các triết gia, và bằng một sự đồng cảm tế nhị, triết học hiện sinh nhìn ra tính cách khổ đế của thân phận con người; bị ném ra ngơ ngác giữa đời sống, ngẫu nhiên, hoàn cảnh giới hạn, hữu hạn tính, cuộc đời là sự hướng về cái chết, sự cô đơn không thể chia sẻ, sự bất định và mong manh của kiếp người đến độ vô ích ... Ðời người cũng vô nghĩa đến độ khó chịu đựng như huyền thoại Sysiphe: suốt đời lăn tảng đá lên núi cao, tảng đá sẽ rớt xuống trở lại và rồi lại lăn lên tiếp để rồi lại rớt xuống, phải chăng đó là từng kiếp đời thất bại không thể giải thoát của con người. Vì không thấy được Tập đế, nguyên nhân của mọi phiền não, khổ đau, của hữu hạn và thất bại ở trên, và sự giải quyết rốt ráo cho thân phận con người là Diệt đế, nên các nhà hiện sinh tiến tới chọn một giải pháp sai lầm, lấy đó làm ý nghĩa cho cuộc đời. Khi thấy cuộc đời có làm gì cũng giới hạn giữa hai bờ sanh tử, khi thấy cuộc đời hữu hạn và vô ích đến độ phi lý, họ đành cho con người một quyền hạn càng nhỏ và mong manh hơn khuôn khổ của kiếp người, đó là sự nổi loạn, sự chọn lựa để biểu lộ tự do. Sự tự do trong cuộc đời hữu hạn chật hẹp vì vọng tưởng vô minh đó ắt cũng phải là một tự do nhỏ hẹp và buồn rầu. Ðó là hình ảnh của người anh hùng buồn rầu hành động để chỉ thấy hành động là vô ích trong cuốn 'Thân phận con ngườí của André Malraux. Ðó là khi thấy trần gian này chỉ là một chốn lưu đày (như chàng cùng tử xa xứ trong kinh Pháp Hoa), nhưng không biết quê nhà ở đâu, đành phải ngậm ngùi chấp nhận cuộc sống lưu đày là quê nhà (tác phẩm Lưu Ðày và Quê Nhà của A. Camus). Thật khác xa với kinh nghiệm của Ðại thừa trong cùng một lời nói: Sanh tử tức Niết bàn. Ở đây sanh tử tức Niết bàn của Ðại thừa là thấy được thực tướng của sanh tử là Niết bàn, khi ấy, giả tướng sanh tử bèn tiêu mất, chỉ còn thực tướng Niết bàn đi đâu cũng là Quê Nhà.
Có thể nói họ đã tiếp cận được chân lý đầu tiên của đạo Phật là Khổ đế. Nhưng họ không thể đi xa hơn để thấy được nguyên nhân của khổ, tức là Tập đế, nên không thể giải quyết vấn đề cho thân phận con người (Diệt đế và Ðạo đế). Do đó mà triết lý của họ trở thành bi quan, bế tắc. Bởi vì phản tỉnh để thấy được khổ, nhưng không giải quyết được khổ thì càng khổ hơn và không riêng gì triết lý hiện sinh mà cả văn chương, văn học nhân loại cũng chỉ luẩn quẩn trong vòng khổ đế.

Phải nói rằng có rất nhiều người, xưa cũng như nay, chỉ nhìn thấy Phật giáo ở giai đoạn Khổ đế này, cho nên có ý nghĩa rất sai lầm rằng Phật giáo là bi quan, yếm thế, là xuất thế, hư vô. Nếu chỉ dừng ở Khổ đế như triết học hiện sinh thì đạo Phật đã không là đạo Phật và không còn là một nguồn sống cho loài người cho tới ngày nay. Ðạo Phật thì tích cực rốt ráo, vì không chỉ nêu lên thân phận trói buộc của con người, mà còn tìm ra nguyên nhân của sự trói buộc, chặt đứt trói buộc để giải phóng thật sự con người bằng một con đường tất yếu. Có lẽ vì thế mà triết lý hiện sinh với những thủ lãnh trí thức và uy tín hàng đầu của văn hóa Tây phương chỉ nở rộ được trong vài thập niên giữa thế kỷ 20 và khi đạo Phật đã có mặt thật sự ở Tây phương, thì phong trào hiện sinh ở châu Âu và thế hệ Beatle ở Bắc Mỹ đã tàn lụi nhanh chóng.

Nếu dùng danh từ hiện sinh để chỉ sự nhấn mạnh vào cuộc sống hiện tại, đến sự cụ thể thực dụng của cái đang hiện tiền, không mơ tưởng hão huyền ở một giải pháp nơi một đời nào khác, một nơi nào khác, không phóng ảnh ra một thần linh ban ơn nào khác, thì phải nói không có một thứ hiện sinh nào hơn đạo Phật, cái hiện sinh của người đã diệt khổ, chánh niệm vào hiện tại, hiện tại lạc thú:

                                                                  Không hối tiếc quá khứ
                                                                   Không chờ đợi tương lai
                                                                   Sống vĩnh viễn hiện tại
                                                                   Nên sắc thân sáng đẹp
 Ðó là cái hiện sinh "Niết bàn hiện tiền" của Lục Tổ Huệ Năng: "Cứ theo lời ông nói, tức là ngoài sắc thân riêng có Pháp thân, lìa sanh diệt để cầu tịch diệt (Niết bàn), lại suy luận Niết bàn thường lạc cho là có thân thọ dụng. Ðây là lầm chấp sanh tử, mê theo cái vui trần gian. Nay ông nên biết, Phật vì tất cả người mê nhận thân tướng năm uẩn là của mình, phân biệt đủ thứ pháp cho là tướng ngoại trần, ưa sanh, ghét tử, niệm niệm đổi dời, không biết là mộng huyễn hư giả, uổng chịu luân hồi, lấy Niết bàn thường lạc đổi thành tướng khổ, trọn kiếp tìm cầu. Phật vì thương những người mê ấy, chỉ dạy Niết bàn chơn lạc, trong sát na không có tướng sanh, trong sát na không có tướng diệt, lại không có sanh diệt nào để có thể diệt, ấy là Tịch Diệt Hiện Tiền. Chính ngay khi hiện tiền, mới gọi là thường lạc. Lạc ấy không có người thọ, cũng không có người chẳng thọ, há nói rằng Niết bàn ngăn cấm các pháp hay sao?"

MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH TOUR TÂM LINH THAM KHẢO:

- Tour Yên tử 1 Ngày

- Tour chùa bái đính 1 Ngày

- Tour Chùa Ba Vàng 1 Ngày

- Tour chùa Cái Bầu 1 Ngày

Đóng góp ý kiến

Call: 097.837.2346